Tìm kiếm
Thư viện ảnh
Tư vấn khách hàng
Aqualaptop.com
Print
Sữa Mộc Châu và Những câu chuyện về mảnh đất thân yêu

Chuyện cổ tích viết từ cao nguyên

Sớm tháng năm, cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) sương mù dày đặc. Rồi nắng lên, sương tan dần. Những đỉnh núi hiện ra như những tam giác đa sắc màu. Con đường đất đỏ dẫn vào tiểu khu 19/5 thuộc Nông trường Mộc Châu bao phủ bởi những thảm cỏ xanh bạt ngàn của nông trường bò sữa, cùng những đồi chè ngút ngàn vừa kịp thức giấc.

Ngày trước, khí hậu ở Mộc Châu khắc nghiệt đến nỗi cỏ nhiều khi cũng không mọc được, nay thì xen cùng với những đồng cỏ xanh mướt là đủ thứ: chuối, ngô, đậu... Hai bên đường thị trấn nông trường và thị trấn Mộc Châu, những ngôi nhà mái ngói, nhà cao tầng mọc lên san sát.

Như hiểu sự ngỡ ngàng của chúng tôi về Mộc Châu, ông Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu, Trần Công Chiến kể: "Mộc Châu bây giờ không hoang sơ mà đã ngút ngàn màu xanh của đồng chè và trải rộng bởi 1.000ha đồng cỏ. 556 hộ dân ở Mộc Châu đang chăm cho hơn 4.000 con bò sữa. Chất lượng đàn bò sữa ở Mộc Châu được đánh giá cao, cho sản lượng sữa tươi mỗi năm tới 10.000 tấn".

Anh Phạm Hải Nam - Cán bộ phòng sản xuất kinh doanh, Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu hóm hỉnh giới thiệu với cánh nhà báo: "Ở đây có cả “Vua bò” đấy". Thế rồi, trong niềm háo hức, chúng tôi gặp được “Vua bò” – Lâm Thanh Trân, người đàn ông có vóc dáng nhỏ, khỏe mạnh, làn da bánh mật và nụ cười hiền khô.
 
 "Vua bò" Lâm Thanh Trân


Nhà ông Trân có tới 25 con đang cho sữa. Con nào con ấy đều to áng chừng nửa tấn. Ông Trân cho biết: Gia đình ông có 10ha trang trại, trong đó 8,4ha dành để trồng cỏ chăn nuôi. Đàn bê bò nhà ông đã lên tới 50 con và là một trong những trang trại lớn nhất Mộc Châu. Có ngày gia đình ông thu được khoảng 5 tạ sữa. Năm 2006, gia đình ông bán cho công ty tới 100 tấn sữa. Ước năm 2007 này sản lượng sữa nhà ông lên tới 130 tấn. Giá sữa thời điểm này tăng lên tới 7.000 đ/kg, đời sống của các hộ chăn nuôi ở đây cũng khấm khá nhiều. Riêng gia đình ông Trân, mỗi năm trừ các khoản chi phí, lãi thu về cũng được hơn 200 triệu.

Một cách chân thành ông Trân kể: Nhiều lúc không tin nổi tất cả đang là của mình. Vì sao vậy? Ông bảo: "Cứ nghĩ đến những ngày đầu lên đây lập nghiệp đầy cực nhọc mà tôi thấy sợ. Tôi vốn sinh ra ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Nhà có tới 6 anh chị em. Gia đình tôi quá nghèo. Chính cái nghèo khiến tôi phải tha hương và khát khao làm giàu. Năm ấy (1978), tôi vừa tròn 20 tuổi, được người quen giới thiệu cho làm công nhân Nông trường Mộc Châu. Chẳng biết lên đây để làm gì, chỉ nghe được làm "thoát ly" khỏi vùng quê nghèo đang sống là tôi mừng. Nhưng cuộc sống của anh em công nhân trên Nông trường Mộc Châu ngày ấy khó khăn vô cùng. Đang lúc cùng cực quá mức, thì năm 1999 nông trường có chủ trương khoán chăn nuôi bò sữa đến các hộ gia đình với hình thức trả nợ góp. Được sự khuyến khích của cán bộ nông trường và sự khích lệ của vợ, tôi tính đi tính lại, rồi nhận nuôi 30 con bê bò của nông trường, tổng số tiền phải trả dần là 70 triệu đồng. Dắt bò về, tôi cứ như người mộng du: Không hiểu nó có chắc là của mình không? Làm thế nào trả cho hết số tiền mà từ trước đến nay chưa bao giờ nhìn thấy, cũng như trong giấc mơ còn chưa bao giờ dám mơ tới. Ngộ nhỡ lúc nó ốm thì làm thế nào? Biết nó có cho sữa hay không? Những câu hỏi đó của tôi bị vợ bảo "dớ dẩn". Mà nỗi lo cũng hóa thật, đang nhiên, đang lành, cả đàn bò ủ rũ, rồi ốm hàng loạt. Tôi như phát điên, phát rồ, "thế là hết rồi" - lần này, tôi nghĩ mà không dám thốt ra. Vợ chồng chạy chữa đủ đường cho đàn bò, cán bộ thú y, kỹ thuật của nông trường cũng lo lắng không kém... Rồi ngày một, ngày hai,.. 12 con bò, bê khai thác sữa lăn ra chết. Hoá ra, chúng bị mắc bệnh do chuồng trại không vệ sinh, chưa có kinh nghiệm chăn nuôi. Vì cuộc sống áo cơm và số tiền nợ 70 triệu, tôi phải gượng dậy với cuộc đời mà học hỏi chăm chút tiếp cho 18 con bò, bê còn lại".

"Được ông trời thương và có kinh nghiệm chăm sóc hơn nên đàn bò nhà tôi khoẻ mạnh, chất lượng sữa được đánh giá cao, trung bình mỗi con cho năng suất 22-23 kg sữa/ngày, có con cho tới 40kg sữa/ngày" - ông Trân nhẩn nha kể.

Nay thì với hơn 20 năm kinh nghiệm nuôi bò sữa, ông Trân đã thành thục chăm lo mọi khâu cho đàn bò, bê, khi chúng trưởng thành. Chẳng thế mà nhìn trang trại nhà ông nhiều người bảo "mơ giữa ban ngày". Ngay đến cán bộ nông trường ngày nào cũng qua các gia đình để kiểm tra, thẩm định các khâu chăn nuôi, thu mua sữa tươi mà khi về cũng không tin nổi vào sự tài tình của người nông dân Lâm Thanh Trân ấy.

Hôm trước, có cô bạn đồng nghiệp lên công tác Mộc Châu về kể: "Ông Lâm Thanh Trân đang ở bên Pháp đấy. Ông ấy đi cùng đoàn cán bộ Công ty Giống bò sữa Mộc Châu sang Pháp học kinh nghiệm làm pho mát tại nhà. Oách chưa...". Nghe cô bạn kể chuyện ông Trân qua Pháp học làm kinh tế, cùng những gì ghi nhận được ở nông trang nhà ông, cũng như của bà con Nông trường sữa Mộc Châu, tôi liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích và ông Trân nuôi bò sữa như một chàng khổng lồ đã và sẽ làm nên những câu chuyện tưởng chỉ có trong mơ.

Chợ tình Châu Mộc – Cái tình không bán

Chợ tình Châu Mộc (nay là Mộc Châu – Sơn La) diễn ra hàng năm vào ngày 1-9 dương lịch và cũng được coi là ngày tết độc lập của người Mông. Đây cũng là phiên chợ tình duy nhất trong năm. Chợ đẹp lắm vì trang phục của người Mông chia thành nhiều dòng: Mông Đơ (trắng), Mông Đu (đen), Mông Si (đỏ), Mông Lềnh (hoa), Mông Súa (Mông Mán)... Các sắc áo váy sặc sỡ hòa trộn vào nhau như một rừng hoa.
 



Hai chữ “chợ tình” đã đi vào cách hiểu của người vùng xuôi như một phạm trù xã hội về tình yêu, hôn nhân. Giải thích thì có thể, nhưng chưa có cách nào định nghĩa thấu đáo về hai từ ghép này. Bởi lẽ, gọi là chợ thì ở đó phải có mua có bán, nhưng cái chợ tình ở đây không ai bán mà cũng chẳng ai mua. Vậy, sao gọi là chợ? Nhưng thật trớ trêu, những người yêu nhau lại lấy chợ làm nơi hò hẹn. Bởi vậy, nôm na có thể hiểu, chợ tình là nơi hò hẹn, trao gửi tình cảm, có những cử chỉ yêu đương diễn ra ở đó theo phong tục, tập quán của từng địa phương. Cũng đương nhiên và dễ hiểu vì chợ là đầu mối, là điểm nút của hầu hết những sinh hoạt văn hóa của đồng bào vùng cao.

Chợ tình Châu Mộc cũng có dáng dấp như chợ tình Khâu Vai bên Việt Bắc, trải qua hơn 40 năm, nhiều thế hệ thanh niên gặp nhau ở đây đã nên vợ nên chồng. Cũng có mối tình không dẫn đến hôn nhân, nhưng vẫn giữ mối quan hệ bạn bè, họ gặp lại nhau trong đêm tết, thăm hỏi động viên nhau trên bước đường đời. Vì vậy, đêm về khuya, bố đi đường bố, mẹ đi đường mẹ, con trai, con gái lớn đi lối riêng của mình. Họ hẹn nhau đến sáng thì đợi ở một điểm nào đó để cùng về bản, tuyệt nhiên không hỏi đêm qua gặp ai, ở đâu, làm gì... Một đặc điểm của phiên chợ này là, tuy người rất đông, kín đường, kín chợ, ngựa xe không đi nổi, nhưng không hề có cãi cọ, không có người say rượu. Người Mông có câu: “Tan chợ không say không phải là người tốt”, ý nói người không uống say là không thật lòng với bạn, hoặc không có bạn.

 


Theo năm tháng, chợ tình Châu Mộc ngày một thêm đông. Từ những năm 90 của thế kỷ XX đã có hàng nghìn người Mông ở khắp các tỉnh vùng Tây Bắc đến dự. Sang những năm 2000, lại thêm người Mông ở Việt Bắc, Thanh Hóa, Nghệ An và cả người Mông bên nước bạn Lào cũng về vui Tết với người Mông Mộc Châu. Các dân tộc anh em như Dao, Kinh, Khơ Mú, Mường Thái ở các bản lân cận cũng kéo về thị trấn Mộc Châu vui tết cùng bà con người Mông. Năm 2004, số người dự hội đã lên đến hơn một vạn. Năm 2005 này có gần 2 vạn người tham gia.

Khi xưa, cuộc sống còn nghèo, mọi người đến chợ phải đi bộ hoặc đi ngựa mất cả ngày trời, đêm không về kịp phải ngủ lại. Bây giờ thì khác, phương tiện đi lại chính của đồng bào là xe máy. Đường đông như trẩy hội. Có những chàng trai đến gần chợ thì dừng xe để thay bộ cánh mới theo kiểu dân tộc cổ truyền. Họ mang theo cả radio cassette đi tìm bạn, mở băng ghi âm những bài hát mà bạn mình ưa thích, bạn nghe được sẽ tự tìm đến. Rồi hai người dắt nhau đi trò chuyện, họ lại mở máy, ghi âm tiếng nói, lời ca hoặc điệu khèn của nhau. Họ trao băng ghi âm cho nhau để mỗi khi nhớ bạn lại mở ra nghe giọng nói thân thương. Trong “rừng người” chen vai, người ta bắt gặp cả những khuôn mặt ngơ ngác của những cô bé 13, 14 tuổi lần đầu xuống chợ. Cánh con trai chầu chực ở tiệm uốn tóc để rẽ ngôi, gọt rửa, xịt keo. Sau đó, họ rủ cánh con gái đi ăn phở rồi đi chụp ảnh và chờ bọc răng vàng. Đó là những lệ bộ cần thiết. Ai cũng đẹp, cũng vui. Cánh thanh niên bắt đầu trêu chọc “kéo” nhau, “kéo” tuột cả nùn tóc giả mà các cô gái vẫn tươi cười, bởi hôm nay là ngày hạnh phúc của tuổi trẻ. Những bàn tay nắm tay, những ánh mắt đắm đuối, những cử chỉ vuốt ve... Cuộc vui rồi cũng qua, để lại kỷ niệm sâu nặng về tình yêu, tình anh em, bạn bè, và những âm vang của những bài ca, điệu múa ẩn chứa tâm hồn người dân miền sơn cước. Năm kia là điệu nhảy khèn độc đáo của anh Thào A Say, năm ngoái là tiết mục múa Sênh Tiền của Đội văn nghệ nghiệp dư huyện Mộc Châu.
 
Năm nay, nhiều người thuộc bài dân ca Khơ Mú “Chằm ơi” (Người đẹp ơi), lời mới, nói về các dân tộc anh em cùng đến đây chung vui với người Mông: “Người đẹp ơi/ Người đẹp về đây cùng núi, cùng rừng/ Tiếng hát ta theo gió bay cao/ Tiếng hát của tình yêu lứa đôi/ Tiếng hát của tình yêu sông núi/ Người đẹp ơi... Người đẹp ơi...”.

Chợ tình Châu Mộc là điểm khởi đầu cho một tình yêu trong sáng. Sự gặp gỡ, ưng thuận ở đây vừa là tỏ tình, vừa là đính ước để mùa hoa ban tới, tình yêu sẽ kết thành trái chín.






Theo diendan.mocchau.com