Những ngày Tết
Độc lập, chợ Mộc Châu ngập tràn trong những bộ váy xoè hoa. Đó là
ngày duy nhất trong năm cao nguyên Mộc Châu trở thành điểm hẹn của
trai gái người Mông. Cứ đến ngày này, tôi lại chẳng thể ngăn bước
chân mình đi về Tây Bắc, để được hoà mình vào dòng người đi chơi
chợ tình, được ngắm phố huyện rực rỡ sắc màu người Mông, và để hiểu
tại sao nụ cười của thiếu nữ Mông lại rạng rỡ đến thế trong những
phiên chợ tình.
Từ khi là một cô bé 8 tuổi, tôi đã biết đi chơi chợ tình. Tất cả
những đứa trẻ quê tôi đều thế. Dù chẳng phải người Mông, chúng tôi
cũng chẳng bao giờ cảm thấy mình lạc lõng trong không khí tưng bừng
đó.
Tôi thường háo hức đợi ngày này trước
đó cả tuần. Vì đó là ngày tôi được mặc một bộ quần áo mới, được
tung tăng cùng bạn bè đi bộ gần 3km để đến chợ, tay nắm chặt vài
nghìn lẻ mẹ cho để ăn quà vặt. Mười mấy năm liền tôi chưa từng bỏ
một phiên chợ tình. Tôi ghi lại hình ảnh của nó mỗi năm, để thỉnh
thoảng đem ra đo đếm xem nó đã thay đổi như thế nào, cứ mỗi lần như
thế lại thấy rất nhiều cảm giác hỗn độn trong lòng.
10 năm trước, khi người ta mới chỉ biết đến những chợ
tình Sa Pa, Khau Vai nổi tiếng lâu đời, thì Mộc Châu đã trở thành
điểm hẹn của những chàng trai cô gái người Mông; của trẻ em, của
người già; của những người hạnh phúc và không hạnh phúc; của những
người có vợ chồng và không vợ chồng. Ở cái ngã tư trung tâm thị
trấn, nơi những đôi trai gái người Mông dập dìu âu yếm, cuộc sống
trở nên giống như một sợi tơ mềm và ngọt, không đau khổ, không lo
âu. Ở nơi đó chỉ có niềm vui, không có nỗi buồn. Chỉ có nụ cười
giòn tan, nụ cười e ấp chứ không có những giọt nước mắt.
Người Mông từ trên Điện Biên, Lai Châu xuống;
người Mông từ Lào Cai, Hà Giang lặn lội vượt rừng vượt núi sang;
người Mông trong Thanh Hoá, Nghệ An cũng háo hức hướng những bước
chân về dẻo đất cao nguyên thơ mộng nhất Tây Bắc. Họ đến Mộc Châu,
mang theo hương vị đặc trưng của những vùng núi cao: một chút sương
mù từ Lai Châu, một chút gió Lào miền Trung hay sự hùng vĩ đến khắc
nghiệt của cao nguyên đá Hà Giang. Đó là lúc cao nguyên Mộc Châu
vào độ đẹp nhất. Những chiếc váy xoè xanh xanh đỏ đỏ khiến cho đồng
cỏ cao nguyên không còn độc một màu xanh đơn điệu, những cánh đồng
hoa cải vàng như được thổi thêm sức sống.
Ngày xưa, người Mông nghèo hơn bây giờ rất nhiều. Họ đi bộ mấy ngày
mấy đêm, băng rừng, vượt núi để đến chợ. Nhà nào xuống chợ bằng
ngựa đã được gọi là xa xỉ, là giàu có. Hình ảnh một gia đình người
Mông cả chồng, vợ và đứa con nhỏ ngồi vắt vẻo trên lưng ngựa đi
trên con đường trung tâm thị trấn là ký ức khiến tôi nhớ nhất trong
những phiên chợ tình. Những con đường phố huyện dịp đó ngập tràn
sắc màu người Mông, nhưng cũng rải đầy phân ngựa. Ngạc nhiên là
chẳng ai khó chịu về điều đó. Nó là một phần của lễ hội người Mông
thuở hàn vi.
Qua năm tháng, chợ tình Mộc
Châu thay đổi theo thời gian, cả những người Mông đến chợ cũng lớn
lên già đi. Qua năm tháng, người Mông cũng biết cách để trở nên
giàu hơn. Họ đến chợ bằng xe máy, bằng ôtô, tay cầm điện thoại xịn.
Vẫn biết là phải nên mừng vì những thay đổi đó, tôi vẫn không tránh
khỏi đôi phút chạnh lòng.
Chợ tình Mộc
Châu bây giờ được các cơ quan chức năng quan tâm, phát triển thành
cả một tuần lễ văn hoá để thu hút khách du lịch với những quầy hàng
giới thiệu văn hoá dân tộc, với hội chợ tấp nập người mua mua bán
bán, với những đêm diễn ca nhạc sôi động và ồn ào. Nhưng tôi vẫn
nhớ, rất nhớ những phiên chợ ngày xưa. Có lẽ sâu xa trong tiềm
thức, tôi chưa quen với việc có những người Mông đến chợ để bán
hàng chứ không phải để vui chơi; chưa quen với việc phải nhìn thấy
những trò đỏ đen ăn thua diễn ra công khai trong hội chợ. Tôi sợ sự
ồn ào sẽ giết chết dần sự nguyên sơ ban đầu của nó. Giống như những
chợ tình Sa Pa , Khau Vai, nơi mà khi đi qua, chẳng đọng lại trong
tôi chút gì.
Không ai biết chợ tình Mộc
Châu có từ bao giờ, cũng chẳng ai biết vì sao người Mông ở khắp các
vùng núi phía Bắc lại tìm về Mộc Châu vào đúng đêm mùng 1-9. Nhưng
lễ hội đêm đó được chờ đợi chẳng kém dịp Tết của người Mông vào
tháng Chạp âm lịch.
Mẹ tôi dạy học ở bản Pá Đông (xã Chiềng Hắc), nơi chỉ có 7 nóc nhà
người Mông. Bà kể lại rằng cả tuần nay cả bản Pá Đông, từ trẻ nhỏ
đến người già, từ vợ đến chồng đều đi bẻ ngô thuê để kiếm tiền
xuống chợ chơi. 1 bao ngô được trả 4.000 đồng tiền công. Làm cật
lực cả tuần, người Mông ở Pá Đông đã có vài ba trăm nghìn đi chơi
chợ tình.
Vào ngày 1/9, bản Pá Đông im lìm
không một tiếng động, chẳng có ai ở lại bản trông nhà. Cũng chẳng
sợ mất mát gì, vì người Mông Pá Đông nghèo thê thiết, tài sản quý
nhất là bộ váy áo đã được họ mang theo đến chợ. Họ giục giã nhau
xuống núi, tìm đến chợ tình. Nhà nào có xe máy thì đi xe máy, hoặc
đi xe ôm, thậm chí là đi bộ gần 20km để đến trung tâm huyện. Bước
chân người Mông vốn đã quen bước trên những dốc núi cao, chẳng hề
thấy mệt mỏi khi tìm đường về chợ.
Bất cứ
người Mông nào đến chợ chơi cũng phải làm hai việc là ăn phở và
chụp ảnh. Những chàng trai cô gái Mông chụp ảnh để lưu lại những
khoảnh khắc hiếm hoi trong năm họ được mặc áo váy đẹp, được cười
thảnh thơi bên bạn trai, bạn gái. Đấy là tôi nghĩ thế. Nhưng vì sao
nhất định phải ăn phở mà không phải là bún hay bánh cuốn hay bất cứ
một món quà chợ nào khác thì tôi không lý giải được. Tôi hỏi một
chàng trai người Mông, cậu ta chỉ cười hiền nói:"Vì chỉ ăn phở ngày
hôm nay mới thấy ngon".
Đến chợ chơi, sợ
nhất là gặp mưa. Mà những ngày đầu tháng 9 năm nào cũng thế, chả
biết được ông trời sẽ đổi ý lúc nào. Một cơn mưa rào vội vã cũng
khiến chàng trai Mông đứng trú ở vệ đường bần thần lo lắng"mưa thế
này thì không sướng rồi". Có lẽ chỉ ai là người Mông mới hiểu được
nỗi lo của chàng trai ấy. Vì nếu trời mưa, làm sao có thể xách
chiếc đài phát ra toàn những bài hát Mông để đi tìm bạn tình. Nếu
trời mưa, làm sao có thể đứng túm năm tụm bảy, cho chàng trai Mông
cười giòn tan, còn cô gái Mông ánh mắt e thẹn, đôi má đỏ hồng. Trời
mưa, sẽ không có những giờ phút tình tự dưới chân dãy núi bao quanh
thị trấn của những chàng trai cô gái người Mông đã tìm thấy nhau
giữa những con đường dọc ngang trong huyện. Từ đó, rất nhiều nam nữ
người Mông đã nên duyên chồng vợ, để rồi những năm sau đó, họ lại
váy áo sặc sỡ, dắt díu nhau xuống chợ, với con bồng con bế trên
tay.
Tôi thích không khí của những đêm
chợ tình. Tôi mê những câu hát của người Mông, mê bộ váy xoè hoa
sặc sỡ. Thế nên mấy năm trở lại đây, tôi đều mặc váy Mông đến chợ,
để được hòa mình vào cái không khí say mê, ngọt ngào đó. Bộ váy
Mông đó, tôi mua của một cô bé nghèo khó ở cao nguyên Tà Xùa (Bắc
Yên, Sơn La) - cô bé 15 tuổi chưa một lần được đi chơi chợ tình vì
còn còng mình nuôi cả một gia đình với một bà mẹ và năm người anh
trai nghiện ngập. Nhưng cô bé ấy thêu những bộ váy rực rỡ khiến bất
cứ thiếu nữ Mông nào cũng phải ghen tỵ.
Tôi mặc bộ váy đó, tưởng tượng mình là thiếu nữ Mông, rồi tan vào
dòng người đi chơi chợ. Người Kinh có thể nhầm tôi là người Mông,
nhưng những chàng trai Mông thì không như thế. Bằng một thứ giác
quan nào đó, họ biết tôi không phải là thiếu nữ Mông, họ biết tôi
không thuộc về thế giới của họ. Không phải vì tôi thiếu bộ vòng bạc
đeo cổ, hay thiếu những đồng xu lúc lắc trên váy. Có lẽ là vì tôi
không có được nụ cười trong trẻo của những thiếu nữ sống cả đời
trên núi cao, vì tôi chẳng có ánh mắt ngây thơ, hoang dại đến nao
lòng người, hoặc vì tôi chẳng biết bước những bước chân nhịp nhàng
khiến chiếc váy Mông xoay tròn theo nhịp bước. Những chàng trai cô
gái người Mông giống nhau từ trong trứng nước. Họ hiểu nhau ngay cả
khi chưa nói. Chẳng có ai có thể cắt đứt được sợi chỉ đó.
Vào cái đêm chợ tình, những vỉa hè dọc phố huyện
quê tôi la liệt người Mông nằm ngủ. Mặc kệ mưa phùn lất phất, mặc
kệ khí hậu se lạnh của tiết trời thu trên cao nguyên, vợ chồng
người Mông vẫn ôm nhau ngủ ngon lành trên nền xi măng, ở giữa là
đứa con chưa đầy tuổi được quấn vội trong miếng vải cáu bẩn. Họ ngủ
thế cho đến sáng, ăn nốt bát phở bằng những đồng tiền cuối cùng
trong túi, rồi bịn rịn đi bộ về bản. Con đường về bản xa lắm, nhưng
dư âm của đêm chợ tình khiến mọi nỗi vất vả tan biến. Đã đi qua rất
nhiều nẻo đường đất nước, tôi vẫn chẳng thấy dân tộc nào sống hồn
nhiên hoang dại như người Mông.
Thế nhưng
ít ai biết rằng, những người Mông được đến chợ chơi là những người
thực sự hạnh phúc, vì ở rất nhiều bản Mông trên những rẻo cao Tây
Bắc, có những người chưa từng một lần đến chợ, và có thể sẽ chẳng
bao giờ đến được. Với họ, không phải dễ mà kiếm được hai ba trăm
nghìn cho những cuộc vui nơi phố huyện. Ngày trước khi lễ hội chợ
tình diễn ra ở quê tôi, tôi đến bản Pha Nhên nghèo khó sát biên
giới Việt - Lào, nơi nghiện ma tuý đã trở thành truyền thống của
dân bản.
Đến Pha Nhên những ngày này buồn
hoang hoải, chứ không có được cái nhộn nhịp như những người Mông
bản khác. Ở đó, người phụ nữ nếu không mòn mỏi chờ chồng đi tù, thì
cũng phải bán mặt cho đất để kiếm tiền mua thuốc cho chồng. Ở đó
chẳng có váy Mông, chẳng có áo đẹp, chỉ có nỗi buồn khắc khoải
trong mắt những người phụ nữ địu con nơi hiên nhà. Họ ngồi đó,
hướng về phía xa xa, nơi có phố huyện rực rỡ đèn hoa, ánh mắt vừa
khao khát vừa vô vọng... Nơi rực rỡ đèn hoa đó chẳng quá xa, nhưng
sao mãi vẫn chẳng tới được.
Theo dulichmocchau.com