 |
| 1. Như thế nào là sữa tốt
|
| 2. Thế nào là giống bò tốt
|
| 3. Ý kiến chuyên gia
|
|
Cập nhật: Thứ Ba, 18/05/2010 15:00
A/ Chọn và phối giống
cho bò sữa I. Chọn giống: Trong chăn nuôi
bò sữa, công tác chọn đúng giống, giống tốt phù hợp với điều kiện
sinh thái của từng vùng là yếu tố chính quyết định tới năng suất
sữa. - Con giống quyết định sản lượng sữa 40%. - Thức ăn 30%. - Nuôi dưỡng chăm sóc 30%. Khi chọn bò giống, ta chọn những con không bệnh tật, khỏe
mạnh và cần căn cứ vào những tiêu chuẩn sau: 1. Đặc
điểm ngoại hình: Bò có ngoại hình cân đối (chiều dài,
rộng, sâu). Bầu vú rộng, đều, mềm, đầu thanh nhẹ, bốn chân chắc
chắn. 2. Tầm vóc và khối lượng: - Đối với
bò Hà Lan thuần 3-4 tuổi, P: 450-500 kg. - Bò Hà-Việt
3-4 tuổi, P: 350-390 kg. - Bò lai Sind 3-4 tuổi, P: 280
- 320 kg. Xác định thể trọng theo 2 công thức: a. Công thức Kaxinlo: P (kg) = Vòng ngực (m) x
Dài thân chéo (m) x 87,5 b. Công thức D.W Jonson: Vòng ngực x Dài thân chéo P (kg) =
---------------------------------- 10.800
3. Di truyền: Giống bố mẹ tốt, sản lượng sữa cao, chu
kỳ cho sữa dài, khỏe mạnh. 4. Khả năng cho sữa: - Chu kỳ khai thác sữa: + Bò Hà - Việt : 270 -
300 ngày. + Bò lai Sind : 240 - 170 ngày. -
Năng suất sữa trung bình : + Bò Hà - Việt : 08 - 10
kg/ngày. + Bò lai Sind : 06 - 08 kg/ngày.
Ngoài ra điều kiện môi trường, khí hậu chuồng nuôi, cách chăm sóc
nuôi dưỡng và cách vắt sữa cũng có ảnh hưởng đến thành phần và sản
lượng sữa. II/ Phương pháp phát hiện động
dục và phối giống cho bò: 1. Động dục của bò và thời
điểm phối giống : - Thời gian động dục kéo dài 18-36
giờ, và sau khi đẻ 20-30 ngày thì lên giống trở lại. Thời điểm lên
giống tốt nhất là vào lần động dục thứ 2 tức là 45-60 ngày sau khi
đẻ (chu kỳ động dục 21 ngày). Đối với bò có sản lượng sữa cao thì
nên phối giống vào tháng thứ 3 hoặc thứ 4 để kéo dài chu kỳ vắt
sữa. - Triệu chứng bò động dục: Bò ít ăn, giảm sữa,
thường nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy (nếu con ở dưới
đứng yên thì bản thân con đó đang lên giống, nếu con ở dưới chạy
thì con nhảy lại là con lên giống trừ trường hợp cả hai con đều lên
giống). Biểu hiện cơ quan sinh dục: Âm hộ sưng đỏ, chảy
nước nhờn trong, lỏng sau đặc dần. Kiểm tra bên trong thấy tử cung
cứng hơn bình thường, noãn sào to lên. Sau khi rụng trứng chỉ sống
được 6-10 giờ. - Xác định thời điểm phối giống, thời
gian rụng trứng: 10-12 giờ sau khi kết thúc động dục còn tinh trùng
sống trong cơ quan sinh dục của bò cái 12-18 giờ. Vì vậy ta phải
phối giống cho bò 2 lần để rào trước, đón sau, tức là lúc bò chảy
nước nhờn keo và đục, âm hộ sưng và chuyển màu đỏ sẩm.
2. Phương pháp phối giống cho bò sữa: - Phối giống trực
tiếp: Cho bò đực nhảy trực tiếp nhưng ít lấy được giống tốt và hay
bị lây truyền bệnh đường sinh dục. Thông thường người ta chỉ sử
dụng phương pháp nầy đối với số bò tơ đã trưởng thành có trọng
lượng nhỏ hoặc bò khó phối. - Phối giống nhân tạo: Dùng
tinh đông viên hoặc tinh lỏng đã chế sẳn đưa vào tử cung bò. Với
phương pháp phối giống nhân tạo chúng ta có thể chọn giống theo
đúng yêu cầu chăn nuôi phù hợp với giống bò mẹ để cho ra đàn con có
chất lượng tốt. III/ Chăm sóc và đỡ đẻ cho
bò sữa: Bò cái sắp đẻ tách khỏi đàn 15 ngày trước khi
đẻ, theo dõi thường xuyên để có thể can thiệp kịp thời nếu có biến
cố xảy ra. Thông thường, người ta để bò đẻ tự nhiên,
sau 2-3 giờ bò chưa đẻ được mới phải can thiệp. Thời gian mang thai
của bò là 9 tháng 10 ngày, cũng có nhiều trường hợp chênh lệch lên
xuống 5-6 ngày. 1. Vật tư đỡ đẻ: - Nước
muối 10% hoặc thuốc tím 0,1%. - Cồn Iod hoặc Cồn
750. - Xà bông, rơm, cỏ khô v.v.. - Thuốc
thú y cần thiết khi phải can thiệp: Oxytocin, Vitamin C,
camphora. 2. Phương pháp đỡ đẻ: - Sát trùng
tay bằng Cồn, tắm rửa bò sạch sẽ nhất là phần mông và âm hộ. - Kiểm tra xem thuận hay nghịch (thai thuận đầu và 2 chân
trước hướng ra ngoài, mọi tư thế khác đều gọi là thai nghịch, ta
phải sữa lại tư thế thai hay chuẩn bị để có thể can thiệp kịp
thời). Trước khi đẻ bọc ối vỡ, bò rặn và thai lọt ra
ngoài. Nếu bò mẹ yếu ta phải kéo thai (lợi dụng lúc bò rặn mới kéo)
hoặc kích thích cho bò rặn bằng cách chích cho mỗi con khoảng 100 -
150 UI Oxytocin (Tùy trọng lượng cơ thể) chia 2-3 lần cách nhau 30
phút, chú ý tuyệt đối không được chích quá liều cho phép vì
Oxytocin có thể là mẹ rặn quá mức dẫn đến bể tử cung.
Bê lọt lòng để bò mẹ liếm, nếu không phải dùng khăn lau khô bóc
móng cho bê đứng, rốn cắt cách bụng 15 cm sát trùng bằng Cồn Iod
cho đến khi khô. Bò đẻ xong nên cho uống nước hòa cám và muối. Sau
1 - 2 giờ bê cứng cáp bắt đầu cho bê bú sữa đầu. Chuồng
bò đẻ và chuồng bê phải luôn khô ráo sạch sẽ. 3. Giai
đoạn hậu sản: - Cho bò ăn thức ăn bồi dưỡng và thức ăn
xanh non. - Dùng bock rữa tử cung bò bằng nước sát
trùng khoảng 3-4 ngày đầu để ngừa viêm. - Chế độ vắt
sữa: Những ngày đầu bò mới đẻ thường thường bầu vú còn cứng do đó
lúc vắt sữa ta phải lấy nước nóng chườm bầu vú cho mềm lại đồng
thời tăng cường xoa bóp bầu 3 - 4 lần/ngày cho đến khi bầu vú bò
mềm hẳn thì lúc đó sản lượng sữa mới tăng dần lên được. Chế độ
luyện vú nầy phải làm thường xuyên và liên tục trong thời gian
khoảng 10 ngày. Nếu sữa bò vắt có màu hồng ta phải giảm bớt lượng
thức ăn tinh. B/ăChm sóc và nuôi
dưỡng I. Nuôi dưỡng bê từ 1 ngày tuổi đến bò trưởng
thành: 1. Bê từ 0-7 ngày tuổi : Sữa mẹ
trong 7 ngày đầu có nhiều Colostrum do thành phần sữa có kháng thể
và nồng độ dinh dưỡng cao nên phải cho bê bú không được nhập chung
vào sữa hàng hóa. Đối với bò khai thác sữa không được cho bê bú
trực tiếp mà phải vắt sữa ra xô rồi tập cho bê uống tránh cho bò mẹ
có phản xạ mút vú rất khó vắt sữa sau nầy. - Cách cho
bê uống sữa: + Nhúng ngón tay vào sữa rồi bỏ vào miệng
bê cho bê mút. Từ từ kéo dần ngón tay xuống xô sữa, bê mút ngón tay
sẽ mút luôn cả sữa vào miệng. Tập khoảng 3-4 lần là bê quen sẽ tự
động uống sữa trong xô được. Ưu điểm: Nhanh, vệ sinh xô
chậu dễ, tiết kiệm. Khẩu phần sữa từ 5 - 6 kg/ngày tùy
trọng lượng bê sơ sinh. 2. Bê từ 8-120 ngày tuổi: Ngoài sữa làm thức ăn chính cần phải tập cho bê ăn cỏ, cám để
sớm phát triển dạ cỏ. Bê 4 tháng chuẩn bị giai đoạn cai sữa phải bổ
sung thêm đạm, khoáng vi lượng và đa lượng vào khẩu phần. Khẩu phần sữa: - Bê 08 - 30 ngày tuổi : 6
kg. - Bê 30 - 60 ngày tuổi : 4 kg. - Bê 60
- 90 ngày tuổi : 2 kg. - Bê 90 - 120 ngày tuổi : 1
kg. Tùy điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng mà ta có thể thay
từ từ một phần sữa bằng cháo bắp hay tấm... Nếu bê tiêu chảy phải
cân đối lại khẩu phần kịp thời. 3. Giai đoạn bê cai sữa
đến tơ lở: Đây là giai đoạn chuyển tiếp rất quan trọng,
ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tình trạng kỹ thuật và bệnh tật,
sự phát triển của cơ thể là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến
tuổi thành thục và sản lượng sữa của bò sau nầy. Do đó việc chăm
sóc nuôi dưỡng, chế độ ăn uống, tắm chải và vận động phải thực hiện
tốt và nghiêm ngặt. Khẩu phần cho bò ở giai đoạn nầy
bao gồm: - Thức ăn tinh: cám hổn hợp (16 - 18%
protein) * 4 - 12 tháng tuổi: 0,6 - 0,8
kg/con/ngày. * Tơ lỡ: 1 - 1,2 kg/ngày. -
Thức ăn bổ sung bao gồm mật, muối, Urea, những loại thức ăn nầy
thường bổ sung vào mùa nắng, cỏ khô không đủ dinh dưỡng cho bò bằng
cách hòa nước tưới vào cỏ. Chú ý: Urê chỉ bổ sung cho
đến 9 - 12 tháng với lượng 15-20 gr/con chia 3 lần/ngày. - Thức ăn thô: Cỏ, rơm cho ăn tự do.
II/ Nuôi dưỡng bò vắt sữa: 1. Yêu cầu: Cho sản lượng
sữa cao, động dục sớm, trạng thái sức khỏe tốt.Khẩu phần: Bao gồm
khẩu phần sản xuất và khẩu phần duy trì. * Khẩu phần
sản xuất: 0,4 đơn vị thức ăn cho 01 kg sữa (1 ĐVTĂ = 1
kg cám HH). * Khẩu phần duy trì: 0,1 đơn vị thức ăn cho
100 kg thể trọng. Trong thực tế ta chỉ cung cấp cám cho
khẩu phần sản xuất còn khẩu phần duy trì cấp bằng cỏ, mật
v.v... Thức ăn xanh cho ăn tự do (tương đương 10% trọng
lượng cơ thể). Lượng nước cần 40 - 50 lít
nước/con/ngày. Bò có sản lượng sữa cao có thể cần tới 100 - 120 lít
nước trở lên. Mùa khô bổ sung thêm năng lượng (rĩ mật) và đạm (Urea
60 - 80 gr/con/ngày chia 3 lần). 2. Những quy định về
vắt sữa: - Vắt đúng giờ, cố định người vắt.
- Giữ yên lặng nơi vắt sữa, không hút thuốc, không gây cảm giác khó
chịu đối với bò. Công nhân vắt sữa phải rửa tay sạch sẽ, móng tay
cắt ngắn, đeo khẩu trang và không mắc bệnh truyền nhiễm. - Chuồng trại và dụng cụ vắt sữa sạch sẽ, hợp vệ sinh. - Bò cao sản vắt trước, trung sản và thấp sản vắt sau. Bò
không bị viêm vú vắt trước, bò viêm vú vắt sau. Trong 01 con bò có
viêm vú, vú nào không viêm vắt trước, vú viêm vắt sau. Sữa bò viêm
không được sử dụng. - Sữa bò trong vòng 10-15 ngày đầu
chứa nhiều kháng thể và hàm lượng dinh dưỡng cao nên chỉ cho bê
uống không được nhập chung vào sữa hàng hóa. Không sử dụng sữa lấy
từ gia súc mới tiêm kháng sinh trong vòng 24 giờ, gia súc chích
vaccine nhiệt thán trong vòng 15 ngày. 3. Quy trình vắt
sữa: - Đưa bò vào vị trí vắt, cho bò ăn thức ăn tinh
theo khẩu phần. - Cố định cổ, cột chân bò. Người vắt
sữa phải ngồi đúng tư thế vắt sữa (đứng bên phải bò, xô vắt sữa
phải đặt trước mặt). Rửa vú bằng nước sạch, dùng khăn
lau khô vắt bỏ vài tia sữa đầu kiểm tra viêm vú bằng cách vắt mỗi
vú vài tia sữa vào miếng vải đen (nếu lợn cợn là bị viêm). Xoa kích thích: Mục đích gây cảm giác dễ chịu, kích thích sữa
xuống và bò bình tỉnh cho vắt sữa. Cách làm: Ngón trỏ
đến ngón út nắm giữa 2 bầu vú bên trái, ngón cái làm chuyển động
toàn thân bầu vú trái. Sau đó hai nữa bàn tay chuyển sang bầu vú
phải, ở đây hai ngón cái nắm ở bầu vú bò và hai bàn tay làm chuyển
động tròn theo bầu vú gây kích thích cho con vật bình tỉnh đứng
yên, sữa trên bể dồn xuống 4 núm vú. Cách vắt: (Vắt nắm
70 - 90 nắm/phút). Trước hết ngón cái và ngón trỏ nắm
và thích chặt phần cơ vú để sữa không trở ngược lại bầu vú được,
sau đó lần lượt thích chặt các ngón 2, 3, 4 để sữa chảy vào bầu vú,
ngón út để cách bầu vú khoảng 0,5 cm, khi sữa thoát ra khỏi núm vú,
ngón cái, ngón trỏ và ngón khác mới lần lượt buông. Dưới áp lực của
áp suất sữa trong bầu vú, bể sữa dẫn dần sữa xuống núm vú và các
thao tác vắt lại được lập lại như ban đầu, 1 lít sữa vắt trong vòng
1 phút là vừa. Thứ tự vắt đối với các núm vú ảnh hưởng
đến sản lượng sữa. Do mối liên hệ qua lại giữa các bể sữa mà đưa ra
quy tắc vắt: Vắt chéo thẳng một phía là tốt nhất. Xoa
kết thúc: Vắt sữa còn khoảng 8 - 10% sữa trong bầu vú thì dừng lại
tiến hành xoa kết thúc. Trước hết xoa nữa bầu vú trái rồi chuyển
sang nữa bầu vú phải giống xoa kích thích nhưng ấn mạnh hơn để dồn
sữa còn lại xuống núm vú. Tiến hành vắt kiệt, vuốt kiệt để tránh
tình trạng viêm vú. Bước xoa kích thích và xoa kết thúc
cần làm nhẹ nhàng, chú ý tránh làm thô bạo gây cảm giác khó chịu
cho gia súc, thời gian mỗi bước kéo dài không quá 1 phút. Sau khi
vắt rữa lại bầu vú bằng nước sạch, lau khô. Cần tránh cho bò nằm
ngay vì vi sinh vật ở nền chuồng dễ xâm nhập vào bầu vú khi lỗ núm
vú chưa kịp đóng lại. Nếu bò bị viêm vú cần đIều trị ngay để tránh
lây lan. - Giữa 2 lần vắt sữa, người công nhân phải dọn
rữa, lau chùi, vệ sinh nền chuồng, máng ăn, máng uống. Nền chuồng
khô, không có nước đọng (là môi trường dễ tạo điều kiện cho mầm
bệnh phát triển và xâm nhập vào bầu vú).
III/ Nuôi dưỡng bò cạn sữa: Thời gian khai thác sữa kéo
dài khoảng 270-300 ngày. Tuy nhiên một số con có năng suất sữa cao
chậm lên giống có thể khai thác trên 300 ngày. Thời
gian bò mang thai 9 tháng 10 ngày thì bò đẻ. Tùy theo biến động
sinh lý trong giai đoạn mang thai mà thời điểm bò đẻ tăng hoặc giảm
5-6 ngày. Khi bò mang thai được 7 tháng bắt buộc phải
cho cạn sữa, dù năng suất nhiều hoặc ít mục đích đảm bảo sản lượng
sữa, sức khỏe bò mẹ, sức khỏe bê con trong lứa tới. Thức ăn thời kỳ
nầy phải kèm theo khẩu phần mang thai. Những ngày sắp
đẻ và những ngày đầu sau khi đẻ, xét tình trạng sức khỏe của từng
con mà giảm thức ăn để kích thích tiết sữa (cám, mật v.v...) Cách cạn sữa: Bò vắt sữa đến tháng mang thai thứ 7 bắt buộc
cạn sữa. Tùy bò sữa nhiều hoặc ít có thể cạn sữa theo 2 cách
sau: * Đối với bò 4-5 lít trở lên:Giảm số lần vắt trong
ngày từ 2 lần xuống 1 lần/ngày hoặc 2 - 3 ngày vắt 1 lần. * Thay đổi giờ vắt sữa. * Thay đổi thứ tự thao
tác vắt. * Cắt thức ăn tinh và thức ăn nhiều nước, hạn
chế nước uống. * Đối với bò 2 - 3 kg/ngày có thể cạn
sữa bằng cách 3-4 ngày vắt 1 lần sau đó để sữa tự tiêu. Song song
phải thay đổi điều kiện sống và chăm sóc của bò như trên. Thường
xuyên theo dõi, kiểm tra xem bò có bị viêm hay không.
Sau giai đoạn cạn sữa, Cho bò ăn lại khẩu phần bình thường. Thức ăn tinh: 1,5 kg/con/ngày. Thức ăn thô: Tự
do. Mùa khô:Bổ sung thêm năng lượng (mật đường)1,2-1,5
kg/con/ngày và đạm (Urêa) 60 - 80 gr/con/ngày. C/ Chuồng trại và phòng trị bệnh I. Chuồng trại:
Hợp vệ sinh, thông thoáng mùa hè, ấm mùa đông và có sân vận động
cho bò. II. Phòng trị bệnh: 1.Vệ sinh ăn
uống: Thức ăn phải sạch không bị thối, chua, mốc, nước uống sạch,
không dùng nước có nguồn bệnh dịch. 2. Vệ sinh thân
thể:Tắm chảy cho bò thường xuyên định kỳ phun thuốc diệt ve cho bò
(Dipterex 0,2%, Tactik 20 ml/8 lít nước v.v...). Sau một thời gian
nếu lờn thuốc có thể luân phiên thay đổi thuốc khác.
Tiêu độc định kỳ mỗi tháng 1 lần bằng vôi sống, Formol hoặc Sút.
Chuồng phải luôn khô ráo, sạch sẽ. * Tiêm phòng một số
bệnh: Tụ huyết trùng, Lỡ mồm long móng. * Định kỳ kiểm
tra phát hiện bệnh nhất là các bệnh truyền nhiễm dễ lây lan cho
người. Báo Nông thôn ngày
nay (2006-01-25)
Các tin khác cùng chuyên mục
|