Trong chăn nuôi bò sữa, để có được bê
con sau này lớn lên trở thành bò khoẻ mạnh thì cần phải đảm bảo
chăm sóc theo từng giai đoạn sau:
1. Chăm sóc bê ngay từ khi còn ở trong
bụng mẹ:
Một bò cái có cơ thể
tốt thì sẽ sinh ra một bê con khoẻ mạnh. Sự phát triển vượt bậc của
bào thai thường diễn ra vào 2 tháng cuối của thai kỳ, có nghĩa bò
cái mang thai vào giai đoạn này cần dinh dưỡng cao. Cần phải cạn
sữa (ngưng vắt sữa) đối với bò mẹ mang thai trước khi đẻ ít nhất là
30 ngày để bò mẹ tập trung dinh dưỡng cho giai đoạn phát triển vượt
bậc của bào thai, đồng thời bầu vú cần phải có thời gian nghỉ ngơi
và phục hồi để có thể tiếp tục SX sữa tốt cho chu kỳ SX sữa kế tiếp
sau khi sinh bê con. Hầu hết các bò cái vắt sữa vào cuối kỳ thường
có trạng thái gầy và giảm cân, vì thế ta cần cung cấp đầy đủ thức
ăn để bò giữ được thể trạng bóng mượt trong suốt kỳ cạn sữa.
2.
Chăm sóc, theo dõi bò trước khi đẻ:
Lúc bò chuẩn bị đẻ ta
phải luôn kiểm tra bầu vú nhằm phòng
ngừa viêm vú để sau này dễ kiểm soát
và khống chế bệnh viêm vú sau khi đẻ của bò mẹ.
Bầu vú sưng to và phát triển chậm ở bò tơ và nhanh hơn ở bò dạ. Sự
hình thành sữa đầu trong suốt 24 giờ trước khi bò đẻ. Khâu đuôi sụp
xuống, âm hộ sưng, tất cả các dấu hiệu trên cho biết bò đang trong
giai đoạn đầu của tiến trình sinh đẻ...
3.
Chăm sóc bê sơ sinh:
|
Chăm sóc bê non
|
Điều quan trọng là bê
sơ sinh phải được cho bú càng sớm càng tốt. Sữa đầu rất nhuận
tràng, dễ tiêu hoá, hàm lượng vitamin A cao và có chứa kháng thể
cần thiết cho bê con, giúp cho bê con ít bị bệnh tật sau này. Bê
con phải được bú lượng sữa đầu từ 6 - 12 lần ngày. Vì thế nếu ta
tách bê con ngay sau khi sinh thì mỗi giờ sau bê con phải được bú
từ 1 - 1,5 lít sữa đầu.
Cần phải tách bê con
khỏi bò mẹ sau khi sinh để tránh bò bị quấy nhiễu bởi bê con, bê
chưa bao giờ bú mẹ sẽ dễ tập bú bình hoặc uống bằng xô hơn. Làm như
thế cũng xác định được lượng sữa của bò mẹ. Bò mẹ không vướng bê
con nên có thể nhập đàn trở lại.
* Các qui luật chung khi cho bê bú,
uống sữa:
- Cho bê uống sữa theo đinh kỳ thời
gian trong ngày.
- Lượng sữa các lần bê
con uống bằng nhau.
- Không cho bê uống
quá nhiều sữa, có nhiều bê bị chết do uống sữa quá nhiều hơn là bị
bỏ đói.
- Tính toán sao cho lượng sữa bê bú
hàng ngày tương đương với 10% trọng lượng bê.
- Tất cả mọi thay đổi về thức ăn cho bê
phải từ từ.
- Khi có bê nhốt chung
trong chuồng thì phải lần lượt cho bê uống từng con một.
- Nước uống cho bê lúc nào cũng phải
đầy đủ.
- Các dụng cụ cho bê uống, bú phải vệ
sinh sạch sẽ và tiệt trùng.
* Phương pháp cho bê
con ăn:
Nếu cho bê uống sữa bằng xô thì có
khuynh hướng bê uống sữa quá nhanh gây quá tải đối với dạ dày có
thể gây nên rối loạn tiêu hoá, do đó cần phải cho bê uống từ từ.
Ta có thể tập cho bê uống sữa trong xô
bằng cách đưa xô sữa vào gần miệng bê, rồi nhúng tay vào
sữa, sau đó đưa lên miệng cho bê bú và hạ thấp dần tay
xuống để miệng bê tiếp xúc với sữa, khi đó bỏ tay ra ngoài, như vậy
bê có thể liếm sữa và tự uống.
Qui trình nuôi dưỡng
và chăm sóc bê con:
Cho bê uống sữa đầu (bắt đầu khoảng nửa
giờ sau khi đẻ - xem bảng)
|
| Thời điểm vắt sữa lần
đầu sau khi đẻ |
| 0-2
giờ | 3-5 giờ
| 6-8 giờ
| 9-11 giờ
| 12-20 giờ
|
| Sản lượng lần vắt sữa
đầu tiên | 6,1
| 5,5
| 5,8
| 5,9
| 7,9
|
| Lượng Gamma globulin
(gr) | 455
| 350
| 350
| 330
| 390
|
| Tỷ lệ Gamma globulin
(%) | 7,9
| 6,2
| 6,2
| 5,9
| 5,0
|
Lượng sữa đầu cho con bú ít nhất là 4
lít/bê/ngày trong 2 ngày, mỗi lần uống khoảng 1-1,5lít. Nhằm đề
phòng thiếu hụt kháng thể cho bê sơ sinh cần chú ý:
- Cạn sữa cho bò mang thai ít nhất 4
tuần trước khi đẻ.
- Tránh không vắt sữa
cho bò trước khi đẻ
- Lượng sữa đầu dư của
bò lức mới đẻ có thể được tồn trữ trong túi Plastic trong ngăn
lạnh.
- Nếu vì một lý do nào đó không có sữa
đầu cho bê sơ sinh thì có thể dùng cách sau:
* Đánh một quả trứng với khoảng 0,85
lít sữa nguyên, thêm vào 0,28lít nước ấm với một muỗng canh dầu gan
cá và một muỗng dầu hải ly. Cho bê ăn hỗn hợp này 3 lần/ngày trong
vòng 4 ngày, loại bỏ dầu hải ly khi quan sát thấy bê tiêu ra phân
bình thường.
Vitamin A có thể cung
cấp bằng cách tiêm một liều 250.000 - 500.000 đơn vị, rồi sau đó
cho bê uống vita- min A 5.000 đơn vị/ngày trong 5 ngày.
* Sữa nguyên:
Thông thường bê sẽ phát triển tốt nếu
như chúng được ăn sữa nguyên ít nhất từ 2 -3 tuần đầu hoặc lâu hơn.
Qui luật chủ yếu để xác định lượng sữa nguyên cho bê (hoặc lượng
dung dịch dinh dưỡng thay thế) hàng ngày là bằng 10% trọng lượng
của cơ thể bê. Lượng tối đa có thể cho bú thường là vào tuần tuổi
thứ 3 - 6. Rồi sau đó lượng sữa sẽ giảm dần cho đến khi cai sữa
hoàn toàn cho bê. Trong trường họp bê phát triển yếu kém, thời gian
cho ăn sữa kéo dài hơn bình thường.
Hỗn
hợp thức ăn cho bê tập ăn
Hỗn hợp thức ăn cho bê
tập ăn ở dạng khô hoặc thức ăn viên với thành phần hỗn hợp đầy đủ
chất dinh dưỡng, lượng đạm 16 - 20%, không cần thiết phải có đạm có
nguồi gốc động vật, nhưng cần có đạm chất lượng cao khi phối hợp
hỗn hợp thức ăn tập ăn cho bê. Thành phần nguyên liệu có
thể gồm các nguyên liệu có sẵn như: Bắp, cám gạo, rỉ mật, bột đậu
nành, muối khoáng... Khi nuôi bê trong chuồng, lượng xơ cần trong
thức ăn tập ăn là 6 - 8%. Nếu khẩu phần ăn của bê không có cỏ khô
thì tỷ lệ xơ cần cao hơn. Có thể cho bê tập ăn vào ngày thứ 10 sau
khi đẻ nhằm kích thích sự tiêu hoá của bê, sau đó tăng dần lượng
thức ăn tập ăn cho đến lượng tối đa 2kg/ngày cho đến 4
tháng tuổi. Sau đó bê sẽ chuyển sang giai đoạn phát triển và sẽ
được cho ăn cám hỗn hợp của bò trưởng thành.
Cỏ
khô:
Sự phát triển của bê
con chỉ được nuôi bằng sữa và thức ăn tập ăn (tỷ lệ phát triển 20%
vào 2,5 tháng tuổi). Nên sử dụng lá cỏ khô nhỏ và nhuyễn cho bê
con, tốt nhất là ngọn cỏ (cỏ voi hoặc cỏ tự nhiên) đã phơi khô
khoảng 1-2 giờ. Tuy nhiên lượng cỏ cho ăn phải giới hạn cho đến khi
bê có thể tiêu thụ 0,75kg thức ăn tập ăn/ngày. Nếu cho bê ăn cỏ mà
thấy bê không tiêu thụ hết lượng thức ăn tập ăn thì nên ngưng.
Không cho ăn cỏ khô tiếp vì bê sẽ không phát triển tốt khi khẩu
phần chỉ là cỏ khô trong thời gian này. 2-3 tuần sau khi sinh, nếu
bê được cho ăn thức ăn tập ăn hoặc cỏ khô thì sự lên men sẽ hình
thành trong dạ cỏ bê 3-4 tuần tuổi. Đến 6- 8 tuần tuổi thì bê có
thể tiêu thụ 0,25kg cỏ khô/ngày. Sau 3 tháng thì có thể cho bê ăn
cỏ hoặc thức ăn thô xanh khác tự do.
Khoáng
chất:
Hỗn hợp khoáng chất
cung cấp 1% Đicanxin-photphat và 1% muối ăn thường được trộn vào
thức ăn tập ăn cho bê. Nếu trong thành phần thức ăn tập ăn cho bê
không có khoáng chất trên thì phải bổ sung hỗn hợp các loại khoáng
trên bằng đá liếm.
Nuôi
dưỡng bê trong vòng từ 3-12 tháng:
Sự lên men của các
loại thức ăn khô trong dạ cỏ dạ tổ ong sẽ được hoàn thiện vào lúc 2
tháng tuổi. Khi bê 3 tháng tuổi có thể tiêu hoá các loại thức ăn
thô xanh như bò trưởng thành. Nếu bê không được cung cấp thức ăn
thô xanh có chất lượng cao thì cần bổ sung cám hỗn hợp
trong khẩu phần ăn hàng ngày cho đến khi bê 1 tuổi. Thức ăn hỗn hợp
có 12- 13% protein cùng với cỏ khô có chất lượng tốt hoặc
thức ăn hỗn hợp có từ 15-16% protein cùng với loại cỏ khô có chất
lượng kém (hoặc cỏ ủ) cũng là khẩu phần thích hợp cho bê ở giai
đoạn này. Số lượng thức ăn hỗn hợp được giới hạn cho ăn là không
quá 2kg/ngày rồi giảm dần sau 6 tháng tuổi khi mà bê có thể tiêu
thụ thức ăn thô xanh để đáp ứng phần lớn nhu cầu dinh dưỡng của nó.
Lượng thức ăn thô xanh và lượng thức ăn hỗn hợp sẽ được cân đối tuỳ
theo thể trạng của bê. Nước uống luôn phải cung cấp đủ cho bê.
Sự
phát triển của bê:
Khi bê con có trọng
lượng trên 40kg được nuôi dưỡng với khẩu phần sữa tự do thì nó có
thể tăng trọng 0,9kg/ ngày. Qui trình cho ăn giới hạn sẽ giảm bớt
tốc độ tăng trưởng của bê tuỳ theo mức độ dinh dưỡng đã cung cấp.
Bê rất nhạy cảm với tỷ lệ béo có trong sữa (bất kỳ thức uống thay
thế sữa nào cũng phải có tỷ lệ béo từ 2,5 - 3%). Vì tỷ lệ chất béo
trong sữa rất khác nhau trong suốt thời gian vắt sữa (béo thấp
trong các tia sữa đầu vì tỷ lệ béo cao hơn vào cuối lúc vắt sữa).
Vì thế chúng ta nên vắt sữa xong rồi mới cho bê uống. Điều này giúp
tránh được tình trạng thất thường của tỷ lệ chất béo trong sữa cho
bê uống (chú ý là không bao giờ cho bê uống sữa hoà chung với
nước).
Cai
sữa:
Có thể cai sữa hoàn
toàn cho bê khi:
a) Bê đã ăn được ít
nhất 80gr thức ăn hỗn hợp/ngày, cỏ và nước uống tự do.
b) Trọng lượng đạt khoảng 65-75kg (có
vòng ngực là 90 - 95cm).
c) Vào khoảng 8-10
tuần tuổi trở lên.!
Quy trình nuôi
dưỡng bê
| Tuần tuổi
| Sữa uống (lít)
| Cám hỗn hợp (gr)
| Cỏ khô (gr)
| Tổng lượng sữa và nước
uống
|
| 2
| 5
| 50
|
| 3,5-5,0 |
| 3
| 4
| 100
| 50
| 4,0-5,0 |
| 4
| 4
| 150
| 50
| 4,0-5,5 |
| 5
| 4
| 250
| 100
| 5,0-6,0 |
| 6
| 4
| 400
| 150
| 5,0-6,5 |
| 7
| 3
| 600
| 200
| 5,5-7,5 |
| 8
| 3
| 800
| 300
| 6,0-8,0 |
| 9
| 2
| 1.000
| 400
| 6,5-8,5 |
| 10
|
| 1.500
| 500
| 7,0-9,0 |
| 11
|
| 1.750
| 600
| 8,0-10 |
| 12
|
| 2.000
| 800
| 8,5-11 |
Theo Lao
Động